Moats/Phương pháp/P/E, P/B thật
Phương pháp · Bài 4 · đọc khoảng 6 phút
P/E thật, P/B thật
P/E trên các ứng dụng thường chưa trừ cổ phiếu quỹ và các quỹ trích từ lợi nhuận. Bài này chỉ cách tính lại cho đúng phần cổ đông thực nhận, rồi so với chính lịch sử của công ty để biết giá đang ở đáy hay đã cao.
Vì sao phải tính "thật"?
Các ứng dụng chứng khoán tính P/E, P/B bằng máy: lấy toàn bộ số cổ phiếu nhân giá, chia cho toàn bộ lợi nhuận. Cách đó bỏ sót hai điều:
- Cổ phiếu quỹ — cổ phiếu công ty đã mua lại. Chúng không nhận cổ tức, không thuộc về cổ đông nào, nên không được tính vào vốn hoá mà ta thực trả.
- Quỹ khen thưởng phúc lợi và quỹ thưởng ban điều hành — trích từ lợi nhuận sau thuế theo nghị quyết đại hội cổ đông. Phần này không về tay cổ đông.
Lợi nhuận mà cổ đông thực nhận, và số cổ phiếu thực sự đang lưu hành, mới là con số đúng để định giá.
Công thức P/E thật, P/B thật
LNST thật = LNST − Quỹ khen thưởng phúc lợi − Quỹ thưởng ban điều hành
Số CP lưu hành thật = Số CP lưu hành − Cổ phiếu quỹ
P/E thật = Số CP lưu hành thật × Giá ÷ LNST thật
P/B thật = Số CP lưu hành thật × Giá ÷ Vốn chủ sở hữu
ROE = LNST ÷ Vốn chủ sở hữu
Ngưỡng và cách đọc
| Chỉ số | Ngưỡng | Ghi chú |
|---|---|---|
| ROE | > 15% là tốt; < 10% thì gửi ngân hàng an toàn hơn | Phải ổn định qua các năm, không phụ thuộc chu kỳ |
| P/E | < 10 | Suy thoái P/E xuống thấp, kinh tế tốt P/E lên cao |
| P/E so với tăng trưởng | P/E < tốc độ tăng lợi nhuận (%) | Tăng 15%/năm thì P/E dưới 15 |
| P/B | < 2 | Đặc biệt hợp với ngân hàng, chứng khoán |
| ROE / P/B | > 10% | Tỷ lệ hoàn vốn thực của chính bạn |
ROE và P/B: tỷ lệ hoàn vốn thực
ROE là lợi nhuận công ty làm ra trên vốn chủ. Nhưng bạn không mua vốn chủ ở giá sổ sách — bạn mua ở giá thị trường, tức là trả gấp P/B lần. Vì vậy lợi nhuận thu về trên đồng vốn của bạn là:
Tỷ lệ hoàn vốn thực = ROE ÷ P/B (cần > 10%)
Ở công ty Y: ROE = 500 ÷ 3.000 ≈ 16,7%; P/B thật 1,5 → tỷ lệ hoàn vốn thực ≈ 16,7% ÷ 1,5 ≈ 11,1%, vượt ngưỡng 10%. Nếu cùng ROE đó mà P/B là 3, bạn chỉ nhận khoảng 5,6% — thấp hơn gửi tiết kiệm.
Nợ vay ròng thay đổi giá bạn thực trả
Khi mua cả doanh nghiệp, bạn mua luôn khoản nợ và khoản tiền của nó. Giá thực trả:
Giá thực trả = Vốn hoá + Nợ vay − Tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn
So với chính nó trong 10 năm
P/E "thấp" hay "cao" chỉ có nghĩa khi đặt cạnh lịch sử của chính công ty đó. Cách làm khác nhau theo loại công ty:
- Công ty chín muồi: xếp chung một nhóm, công ty nào P/E thấp hơn là rẻ hơn. Sau đó so P/E với chính nó 10 năm: về vùng đáy → giá đáy; trên trung bình → giá đã cao.
- Công ty tăng trưởng: dự báo lợi nhuận 10 năm tới (dựa vào lịch sử, kế hoạch trong báo cáo thường niên và mở rộng thực tế trên bảng cân đối), tính lợi nhuận trung bình 10 năm, rồi tính P/E trên lợi nhuận trung bình đó. Con nào P/E thấp mà tăng trưởng mạnh là rẻ. Sau đó cũng so với chính nó.
Sau P/E, luôn kiểm P/B. Nếu P/B cũng chạm vùng đáy, nó củng cố rằng ta đang mua được giá rẻ. Nếu P/B lại cao quá, hãy xem lại P/E có bị kéo thấp bởi lợi nhuận bất thường không. Trong điều kiện kinh doanh bình thường, P/E rẻ đáng tin hơn P/B; nhưng khi kinh tế xấu ảnh hưởng tạm thời đến lợi nhuận, P/B cho ta sự đáng tin cậy.
Cách thứ ba: chiết khấu lợi nhuận 10 năm
Khoá học còn có cách tính giá trị nội tại bằng cách chiết khấu lợi nhuận dự đoán của 10 năm tới:
- Tính tốc độ tăng lợi nhuận trung bình trong quá khứ.
- Dự đoán lợi nhuận từng năm trong 10 năm tới (FV).
- Đưa từng năm về giá trị hiện tại:
PV = FV ÷ (1 + r)n với n là số năm, r là tỷ suất mong muốn
- Cộng 10 giá trị PV lại → giá trị nội tại của doanh nghiệp.